Nguyễn Trung Kiên
Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN) là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nguồn lực quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là chủ trương xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta, thể hiện tầm nhìn chiến lược và tình cảm sâu sắc dành cho đồng bào ta sinh sống ở nước ngoài.
Hiện nay, cộng đồng NVNONN với quy mô gần 6,5 triệu người sinh sống tại hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ (trong đó hơn 80% định cư tại các nước phát triển) đang ngày càng khẳng định vị thế, uy tín chính trị, đồng thời sở hữu tiềm lực to lớn về kinh tế, tri thức, khoa học - công nghệ và mạng lưới quan hệ quốc tế sâu rộng như Giáo sư Trần Thanh Vân - nhà vật lý gốc Việt nổi tiếng thế giới, người sáng lập Rencontres du Vietnam và Trung tâm ICISE, người tích cực kết nối các nhà khoa học hàng đầu thế giới với Việt Nam, góp phần thúc đẩy sự phát triển của khoa học cơ bản và đào tạo thế hệ trẻ; Giáo sư Trịnh Xuân Thuận - tác giả nhiều cuốn sách phổ biến khoa học nổi tiếng; Nghệ sĩ Đặng Thái Sơn - người đã góp phần quảng bá âm nhạc cổ điển và hình ảnh người Việt trên trường quốc tế; Tiến sĩ Lê Viết Quốc - một trong những chuyên gia hàng đầu thế giới về trí tuệ nhân tạo (AI) và học sâu (Deep Learning); Amanda Ngọc Nguyễn - người phụ nữ gốc Việt đầu tiên bay vào không gian, đồng thời là nhà hoạt động xã hội có ảnh hưởng quốc tế ….. Họ đã trở thành chủ thể đồng hành, tham gia trực tiếp và đóng góp chủ động vào công cuộc bảo vệ chủ quyền từ sớm, từ xa, xúc tiến đầu tư, thương mại và là cầu nối hữu nghị bền vững giữa Việt Nam với thế giới.
Tình hình thế giới và khu vực hiện nay đang có những biến động hết sức nhanh chóng, phức tạp và khó lường; các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, khoa học - công nghệ phát triển vượt bậc, tác động sâu sắc đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội toàn cầu; sự gia tăng của xung đột địa chính trị, tình trạng bất ổn tại một số khu vực cùng xu hướng siết chặt chính sách nhập cư tại nhiều quốc gia đã và đang tác động trực tiếp đến sự ổn định cuộc sống cũng như địa vị pháp lý của kiều bào ta.
Ở trong nước, sau bốn thập kỷ thực hiện công cuộc Đổi mới, cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Đất nước đang bước vào giai đoạn mới với khát vọng phát triển mạnh mẽ, hướng tới thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đến năm 2030 và hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định đối ngoại là nhiệm vụ trọng yếu, tiên phong phục vụ cho các mục tiêu an ninh, phát triển và nâng cao vị thế đất nước, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ, toàn diện và hiệu quả hơn nữa trên mọi mặt trận.
Thực tiễn mới đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc đổi mới, nâng cao công tác NVNONN: không chỉ dừng lại ở việc bảo hộ, chăm lo thuần túy, mà còn cần chủ động nâng tầm vị thế cho cộng đồng, hỗ trợ kiều bào củng cố chỗ đứng vững chắc về cả chính trị lẫn kinh tế tại nước sở tại; xây dựng cơ chế giúp NVNONN có thể phát huy ảnh hưởng, uy tín, nguồn lực và kinh nghiệm để đóng góp cho quê hương. Cộng đồng người Việt toàn cầu sẽ được đặt vào vị trí chủ thể, cùng tham gia giải quyết các bài toán phát triển quốc gia. Tiến trình này đòi hỏi những bước chuyển đổi cốt lõi: từ “kết nối” sang “đồng kiến tạo”, từ “vận động” sang ‘thể chế hóa nguồn lực”, từ “bảo tồn” sang “lan tỏa giá trị Việt”. Qua đó, khơi dậy và phát huy tối đa mọi nguồn lực của kiều bào phục vụ cho các mục tiêu phát triển chiến lược của đất nước.
Là cơ quan tham mưu, xây dựng và hiện thực hóa các chủ trương, chính sách chiến lược của Đảng và Nhà nước đối với đồng bào ta ở nước ngoài, thời gian qua, Ủy ban Nhà nước về NVNONN đã triển khai toàn diện công tác này trên nhiều lĩnh vực then chốt. Trong công tác tham mưu chính sách, Ủy ban đã kịp thời đề xuất tháo gỡ các vướng mắc pháp lý liên quan đến kiều bào, góp phần xây dựng hành lang pháp lý thông thoáng, bảo đảm tối đa quyền và lợi ích chính đáng cho bà con khi trở về đầu tư, sinh sống tại quê hương. Công tác chăm lo, hỗ trợ cộng đồng tiếp tục được chú trọng thông qua hỗ trợ bà con ổn định địa vị pháp lý và cuộc sống tại các vùng khó khăn. Công tác giữ gìn bản sắc văn hóa được đẩy mạnh thông qua việc triển khai sâu rộng Đề án Tôn vinh tiếng Việt, hỗ trợ cộng đồng tổ chức các hoạt động văn hóa truyền thống, giúp ngôn ngữ và văn hóa dân tộc tiếp tục được duy trì, gìn giữ trong đời sống cộng đồng. Công tác kết nối, phát huy nguồn lực của NVNONN đã gặt hái nhiều kết quả vượt bậc, không chỉ thu hút hiệu quả dòng vốn đầu tư mà còn khơi thông nguồn chất xám, thu hút các dự án đầu tư công nghệ cao và sáng kiến từ đội ngũ trí thức, chuyên gia, doanh nhân kiều bào.
Những kết quả thực tiễn này đã tạo tiền đề vững chắc để công tác NVNONN bước vào giai đoạn mới với những yêu cầu và nhiệm vụ cao hơn, trong đó tập trung vào các nhóm phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm sau:
Thứ nhất, triển khai hiệu quả các nghị quyết của Đại hội XIV, tích hợp đầy đủ nội dung NVNONN trong các chiến lược phát triển quốc gia 2026–2030. Công tác NVNONN phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung của đất nước, gắn kết chặt chẽ với các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm khơi thông và lồng ghép mọi nguồn lực của kiều bào vào tiến trình phát triển đồng bộ.
Thứ hai, tăng cường đại đoàn kết dân tộc, củng cố niềm tin và sự gắn bó của kiều bào. Tiếp tục chú trọng, đa dạng hóa các phương thức tiếp xúc, hoạt động kết nối kiều bào với đất nước. Kể từ năm 2025 đến nay, Lãnh đạo cấp cao đã thực hiện gần 60 cuộc gặp gỡ kiều bào; Lãnh đạo Bộ thực hiện khoảng 30 cuộc; đồng thời tổ chức nhiều đoàn công tác cộng đồng tại Campuchia, Thái Lan, Nhật Bản. Các hoạt động hướng về cội nguồn như Xuân Quê hương, đoàn kiều bào thăm Trường Sa và nhà giàn DK-I, Giỗ Tổ Hùng Vương và Trại hè Việt Nam (thu hút hơn 4.000 lượt kiều bào tham gia từ năm 2024 đến nay) tiếp tục được đổi mới và nâng cao chất lượng.
Thứ ba, thu hút, phát huy mạnh mẽ nguồn lực của cộng đồng NVNONN, đặc biệt trong lĩnh vực khoa học - công nghệ. Cụ thể, tập trung khơi thông nguồn lực kiều bào trong các lĩnh vực tiên phong như trí tuệ nhân tạo (AI), y tế, đổi mới sáng tạo, kinh tế xanh; phát huy hiệu quả từ các diễn đàn kết nối, các mạng lưới đổi mới sáng tạo trong cộng đồng NVNONN.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ pháp lý cho NVNONN, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài và các hội đoàn để bảo vệ lợi ích chính đáng, hỗ trợ bà con ổn định cuộc sống và hội nhập bền vững. Tích cực rà soát và tham gia xây dựng hệ thống quy phạm pháp luật trong nước liên quan đến NVNONN. Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật trong nước và sở tại nhằm nâng cao ý thức chấp hành luật pháp của kiều bào.
Thứ năm, đẩy mạnh lan tỏa văn hóa – tiếng Việt, chú trọng thế hệ thứ hai, thứ ba. Tiếp tục triển khai, nhân rộng Đề án Tôn vinh tiếng Việt, phát huy vai trò của các Sứ giả tiếng Việt, mở rộng và phát triển Mạng lưới giảng dạy và học tập tiếng Việt trong cộng đồng tại các quốc gia, vùng lãnh thổ. Đồng thời, tăng cường gắn kết việc gìn giữ, phát huy tiếng Việt với quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc thông qua các phong trào tôn vinh, giới thiệu và phổ biến các giá trị văn hóa Việt Nam như ẩm thực, trang phục truyền thống, văn hóa dân gian và các di sản văn hóa khác, qua đó góp phần lan tỏa tiếng Việt, củng cố bản sắc dân tộc và tăng cường sự gắn kết của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài với quê hương, đất nước.
Nhìn chung, công tác NVNONN giai đoạn tới cần mang tính chủ động, sáng tạo và thích ứng cao, đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ từ tư duy đến phương thức triển khai với phương châm “Đồng hành - Đồng kiến tạo - Kết nối”. Hướng tới Hội nghị Ngoại giao 33, việc thống nhất nhận thức, tư duy và hành động của ngành đối ngoại cho giai đoạn tiếp theo sẽ là kim chỉ nam để chuẩn bị kỹ lưỡng cho Hội nghị NVNONN toàn thế giới lần thứ 5 cũng như hoàn thiện các văn kiện, đề án chiến lược liên quan đến công tác NVNONN. Đây chính là nền tảng vững chắc để đưa 6,5 triệu kiều bào ta thực sự trở thành chủ thể đồng hành mạnh mẽ, cùng nhân dân trong nước hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc./.




